Cầm Quyền Du Đảng Hay Du Đảng Cầm Quyền? . Đinh Tấn Lực



Cầm Quyền Du Đảng

Hay

Du Đảng Cầm Quyền?

. Đinh Tấn Lực

Nhà cầm quyền CSVN hiện chỉ cầm búa cầm liềm theo kiểu cầm chừng: Chủ nghĩa bây giờ là cầm khoán bẻ măng. Chính sách là cầm cố đất nước. Định hướng là cầm cái/cầm con mọi nguồn viện trợ. Quan chức thì cầm cốc mua vui. Khẩu hiệu đạo đức là cầm lòng. Kẻ thù là sĩ phu cầm bút. Đối nội là cầm tù phản biện. Đối ngoại là cầm dao đằng lưỡi. Tư tưởng là uốn gối cầm bô. Kinh tế là khấu đầu cầm bị. Văn hóa nhắm mắt cầm loa. Thông tin bịt mồm cầm kéo. Tuyên giáo nhắc tuồng cầm canh. Công thương khum lưng cầm khách. Công an khóa xích cầm chân. Tư pháp cầm đèn chạy án. Báo đài khép nép cầm ca. Giáo dục huơ roi cầm tiền. Y tế miên man cầm giá. Hành chánh xum xoe cầm dù. Dân phòng lăm le cầm súng. Tại chức nhi nhô cầm bằng. Cấp ủy loay hoay cầm đũa. Đảng viên tí toáy cầm nhầm. Chất xám tất bật cầm máu. Mặt Trận đắm đuối cầm chầu. Phong bì thoải mái cầm cương. Đầu tư tuột dốc cầm chắc. Quốc Hội không dám cầm còi. Tham nhũng ung dung cầm lái. Đất nước lệt bệt cầm cờ…

Sứ mệnh lịch sử bây giờ là cầm cự: Lãnh đạo níu ghế cầm đô. Nhân dân lũ lượt cầm đồ. Công nhân hút gió cầm cữ. Nông dân chạy gạo cầm hơi. Ngư dân cầm mạng chuộc tàu. Tiểu thương cầm vợ đợ con. Trí thức rán cầm nước mắt. Trung ương vẫn ngỡ cầm đầu. Trên dưới tranh quyền cầm trịch. Cả giuộc lắm phen cầm cập. Nhìn giặc đoạt ải/chiếm đất/cướp đảo mà chẳng dám cầm quân. Thấy dân đòi đất/đòi nhà/đòi chỗ tu hành thì giả dạng du côn cầm gạch/cầm đá/cầm cây/cầm gậy…

Một nhà cầm quyền như Rứa đáng gọi là gì? Nghe chừng phảng phất đâu đây thoảng chút hoang mang: cầm độc hay cầm thú?

- Toàn Đảng Chống Toàn Dân -

Câu trả lời cho câu hỏi nêu trên hoàn toàn thuộc về nhân dân. Dù chưa rõ và chắc, qua một cuộc trưng cầu dân ý vẫn biết là khó sớm có, song chẳng ai là chưa đoán ra được, căn cứ vào những sự kiện đã từng xảy ra đó đây, từ Thái Hà tới Tam Tòa, Bát Nhã, và mới vừa lặp lại, cả trên đồi Đồng Chiêm, cả trên mạng BauxiteVN, lẫn trên bục chánh thẩm khắp nước.

Cứ Google Image các từ khóa đó là lập tức hình ảnh máu me nhầy nhụa hiển thị đến không kịp bấm chuột sang trang.

Du đảng là gì, nếu không phải là tổ chức cho dân phòng/xã hội đen lấy cớ dẹp xe máy dựng trước nhà để gây ẩu đả có thương tích; là chỉnh sửa hình ảnh của thủ phạm từ nhiều năm trước để vu oan/bắt bớ nạn nhân?

Du đảng là gì, nếu không phải là tổ chức thuê bao xã hội đen trà trộn vào đám đông giáo dân/phật tử đang cầu nguyện để phá rối/lăng mạ; là chiếm đất giáo đường làm công viên; là giật sập nhà nguyện/đập phá chùa chiền/huy động hàng ngàn công an cùng chó nghiệp vụ giật sập thánh giá lúc 2 giờ sáng…?

Du đảng là gì, nếu không phải là là chỉa dàn loa phường từ bốn hướng vào nhà thờ ra rả chửi rủa Chánh xứ họ đạo; là ủi đất/đắp mô/lấp ngõ để giáo dân không qua lại được; là hành hung/đả thương cả người thu hình các thương binh bị đánh và chụp ảnh các mô đất điển hình của chính sách gây ùn tắc giao thông/ngăn sông cấm chợ?

Du đảng là gì, nếu không phải là “tổ chức chu đáo, bỏ nhiều công sức và tiền bạc” thuê bao tin tặc (cả tin tặc “lạ”) để xâm nhập/khống chế/truy sát các trang mạng phản biện; là ăn cắp mật khẩu để chiếm đoạt các trương mục email và mạo danh tung thư lũng đoạn?

Du đảng là gì, nếu không phải là tổ chức nghe lén điện thoại/đọc lén điện thư; là xông vào nhà dân lục soát, chộp ổ cứng vi tính về khám; là gọi dân lên đồn không được, mới trưng ra trát tòa; là buộc dân phải thành khẩn khai báo “tội yêu nước” vì đã vạch trần các âm mưu phá hoại đất nước và bán nước cầu vinh?

Du đảng là gì, nếu không phải là bao vây/cô lập tòa án bằng trùng lớp nhiều thứ lực lượng cơ động/giao thông/PCCC/bảo vệ/dân phòng; là tổ chức thay đổi chiếu khán của ủy viên Hội đồng Thẩn phán Quốc tế, ngăn cản các đoàn ngoại giao, ngăn cản luật sư của Hiệp hội Luật gia Quốc tế (IBA- mà nạn nhân là một thành viên), ngăn cản phóng viên của các tờ báo quốc tế, và chận đường nhân dân đến theo dõi/dự thính phiên tòa áp án người phản biện; là huy động thuê bao hàng xóm nạn nhân vào lấp kín phòng xử trong lúc thân nhân/bằng hữu của nạn nhân phải đứng ngoài mưa; là phá nhiễu âm thanh các đoạn phát biểu của nạn nhân trước vành móng ngựa; là cấm phóng viên chụp ảnh/thu âm làm phóng sự phiên xử; là tịch thu cả điện thoại di động của những người bước vào phòng xử; là cấm tiệt báo chí tường thuật/trích đăng/bình luận phần đối thoại/tranh luận trước tòa của các nạn nhân? là chỉ cần 15 phút nghị án cho một tội danh có thể lên mức tử hình; thậm chí, là bắt giữ/hạch sách/thẩm vấn người dân ngồi uống càphê ở quán nước trước tòa?...

- Cùng Tắc Biến, Biến Tắc Tị -

Các thắc mắc hợp hiến hay vi hiến, pháp quyền hay bạo quyền… đều không còn là vấn đề, một khi đảng và nhà nước đã mất hết/mất trọn/mất ráo mọi quyền lực chính thống của một chính quyền. Đến mức phải chọn lấy các hành xử ti tiện nhất là hình sự hóa mọi lời lẽ phản biện và sử dụng/giả danh du đảng để phân định Đúng/Sai.

Liên Xô và các chế độ Đông Âu cũ đều từng trải và từng thuộc vào bậc thầy của các cách hành xử đê tiện đẫm máu và nước mắt đó trước khi kết thúc.

Các cuộc cách mạng màu (thời hậu chiến tranh lạnh) cũng có chung điểm khởi từ sự chối từ lẫn ý muốn chấm dứt cung cách cai trị du đãng hèn hạ và đê tiện của các chế độ độc tài bản đaị: “Hết thời rồi” tại Serbia năm 2000. “Hoa hồng” tại Georgia năm 2003. “Màu cam” tại Ukraina năm 2004. “Uất kim hương” tại Kirzistan năm 2005. “Màu xanh” tại Lebanon năm 2006…

Hiện tượng “Hết Thời Rồi” đang rần rật tự diễn biến trong lòng chế độ Việt Nam.

Cũng không còn là vấn đề ở đây nữa, về mọi hoang mang cầm quyền hay cầm thú.

Vấn đề là thời điểm của một cuộc cách mạng trắng (áo trắng và khăn tang trắng). Biết đâu đó cũng là dịp đánh đấu hoành tráng của đại lễ kỷ niệm 1000 năm Thăng Long?

21/01/2010

Blogger Đinh Tấn Lực

Hỏi đảng: Sao mày u tối thế?


Hỏi toà nhà đá

. Hoàng Hưng

Nuốt bao nhiêu tiếng khóc tiếng rên la
Sao mày lặng câm thế?

Hút bao nhiêu hơi thở hổn hển
Sao mày lạnh lẽo thế?

Giam hãm biết bao nhiêu cuộc đời
Sao mày cứng rắn thế?

Ủ bao nhiêu hy vọng
Sao mày u tối thế?

Con nhân sư thế kỷ hai mươi
Không bao giờ trả lời

Không ai có thể xô ngã anh bằng một hay nhiều vết bẩn giữa vành móng ngựa


Đôi chân sợ hãi, tôi chọn bước ra

. Trần Tiến Dũng


Kiêu hãnh trong bộ điệu con gà trống trên mô đất của mình
Những gì anh đã gáy là nỗi buồn của anh,
trong mùa lễ hội anh chọn lựa
Không cần cầm viết
chạm cái mỏ vào ánh nắng buổi sáng
Có thể viết gì, thi sĩ!
Xứ sở chỉ còn màu nắng đầu ngày là không bị bôi bẩn
Ngửa cổ gáy vào đó nỗi buồn kiêu hãnh
ngẩng mặt làm thi sĩ của chính mình
Bụi cỏ vừa nở xanh
là nguy cơ anh bị giết ngay lúc ấy
Bụi cỏ vừa nở xanh không đưa được nỗi buồn anh đi về đất
Bụi cỏ vừa nở xanh dựng đứng trước mặt anh ngọn núi
Thơ anh không thể vượt qua, kẻ độc tài không thể vượt qua
Ở lại cho một cuộc thách thức bằng tiếng nói
Ở lại để chấp nhận dòng máu xanh tuôn chảy
Cái chết từ từ dưới cái lưỡi đỏ cứa cổ
Nỗi buồn của anh dưới lưỡi dao ấn nhẹ tay

Không ai có thể xô ngã anh
bằng một hay nhiều vết bẩn giữa vành móng ngựa

Thi sĩ! Anh gáy cho tới chết
nỗi buồn là lễ hội.


Tôi yêu những mùa lễ hội của tôi
Tôi đến đó thì thầm với tôi bằng giọng của người mẹ.
“Nếu phải hóa trang hãy tô đậm bằng sự thật
Con có gì khi hát với bà con nếu máu không nóng hổi
Con có gì khi bắt kịp má trong mùa mưa sẽ tới, lúc những hạt mầm vừa giụi mắt
Con có gì để kể lại, từ lúc má con ta lưu lạc
Con có gì khi nhìn vào nước mắt của má trên mi mắt con
Không ánh sáng của ý thức nói thật, điều đó thiệt tệ hơn cái chết
Tâm hồn trung thực không chạm vào nhau, sự sống này làm sao có tiếng hét để xé mình ra, để thấy mình là người.

Con dự hội đi, chọn cho mình một trò chơi, nơi con thuộc về
những người bị thua sạch

Ý thức chống độc tài bị thua sạch là lúc có thể biết
còn lại những gì chưa bị ăn cắp và đánh tráo.”


Ngày mùa đông phải rời căn nhà mình
Ngơ ngác từng nhóm người Việt biểu tình tìm mảnh đất sống đã mất
U uất những cư dân blog đưa tiếng Việt đi tìm sự minh bạch để lòng yêu nước còn phản ứng,
để tỏ thật hư hai quần đảo trong số phận biển Đông.

Ngày mùa đông phải rời căn nhà mình
Nói chuyện với con gà bình minh
với người đã khuất không chịu rời hoàng hôn
Thi sĩ, anh không sinh ra để làm người can đảm
Ngày mùa đông phải rời căn nhà mình
Tôi lại thấy một con gà, trong nghĩa địa của loài gà với những dúm lông xác xơ cầu cứu ánh sáng, tiếng gáy rè cầu cứu gió bão, với nỗi sợ cầu cứu cái sợ
Nỗi sợ cầu cứu cái sợ!
Rời nhà mình chỉ là một cách che giấu nỗi sợ

Thi sĩ! Ngôn ngữ anh đi vào nỗi sợ chế độ độc tài để ý thức về cái sợ

Kéo lê sự sợ hãi dai dẳng này để bùng nổ cái sợ
Thi sĩ, anh không phải là người can đảm
Chọn hố thẳm hiểm ác bước ra một lần
để biết mình có hay không thể vượt qua.

Những Mảnh Đời Kẻ Khác - The Lives of Others

Mời các cán bộ/công an đã xét nhà/đang triệu tập/sắp làm việc với GS Nguyễn Huệ Chi cùng xem qua một phim truyện có thật ở Đông Đức:

Những Mảnh Đời Kẻ Khác - The Lives of Others

Phim truyện đoạt

7 giải thưởng LOLA

3 giải thưởng điện ảnh Âu châu !!!

(Phụ Đề Chữ Việt)

Tuấn Khanh: "Ai mang chung niềm đau, khi nước Việt nghẹn ngào?"






Tuấn Khanh


Bản Du Ca Dành Cho Ngư Dân VN



*
đêm nay gió lên rồi, mà đường về xa lắm em ơi,
biển xanh nay nghe tù tội, phận người theo con sóng trôi.
chim ơi bay phía chân trời, gửi lời này đến quê tôi,

quê tôi xa xôi vời vợi, nước mắt rơi thành lời.

*
ngửa mặt lên trời, như xác ngư dân trôi ngoài biển khơi,
trôi theo con sóng vỗ, trôi theo phận nước tôi.

tiếng thở than nào, trên áo tang đẫm máu,

có tiếng ai về sau, hay linh hồn nghẹn ngào?

*
đêm nay gió lên rồi, đời người buồn lắm em ơi,
biết đâu tương lai mà đợi, từng ngày nhìn con sóng trôi.

ai đang chống con thuyền, vật vờ phía khơi xa,

trôi theo con sóng vỗ, trôi theo phận nước tôi.

*
ngửa mặt lên trời, như xác ngư dân trôi ngoài biển khơi,
trôi theo con sóng đỏ, trôi theo phận nước tôi.

biết về nơi nào, khi biển xanh nhuốm máu,

ai mang chung niềm đau, khi nước Việt nghẹn ngào?

Cục Gân Gà Đầu Năm Hữu Nghị

Tôn Quốc Tường


Cục Gân Gà

Đầu Năm Hữu Nghị

. Đinh Tấn Lực

“Có ngoại xâm thì chống ngoại xâm
Có nội thù thì vùng lên đánh bại
Để Đất Nước này là Đất Nước Nhân Dân
Đất Nước của Nhân Dân…”.
(Nguyễn Khoa Điềm)

Bộ phim Lý Sang-Phong Ba Chốn Cung Đình ( 이산 - 정조대왕 ) của đạo diễn Lee Byeong-Hun (trình chiếu trên HTV3 lúc 21h mỗi đêm từ thứ hai đến thứ năm hàng tuần) diễn lại cuộc đời đầy sóng gió của hoàng thái tôn Lý Sang từ thuở ấu thời cho đến lúc trở thành vị minh quân Jeong-Jo (1752–1800) trong triều đại Joseon minh trị của Triều Tiên (tức trong khoảng cùng thời với vua Quang Trung của VN).

Bộ phim lôi cuốn khán giả không chỉ vì các ý tưởng đi trước thời đại nhằm canh tân (cả triều đình, đất nước, lẫn chính sách đối ngoại với Thanh triều) của vị hoàng đế trẻ tuổi Jeong-Jo trong một giai đoạn lịch sử bi tráng cận đại thay da đổi thịt của xứ này; mà còn bởi từng lời đối thoại/phản biện của các nhân vật hắc/bạch/thiện/ác/chính/tà/bảo thủ/cải cách/quý tộc/sĩ phu/trí thức… Trong đó, quả đáng ngẫm biết bao, ngay trong thời điểm kỷ niệm trọng thị 60 năm quan hệ Việt-Trung này, lời nhắn nhủ xuyên thời đại của Hong Kuk-Young – một tay mưu sĩ/khai nghiệp/công thần của Lý Sang: “Đi với hổ thì vào rừng xanh. Còn theo chó thì chỉ có thể vào nhà xí”.

*

Chào Đón Tân Niên – Ưu Tiên Trung Quốc?

Mở màn cho Năm Hữu Nghị 2010 “Thiên tuế Ta-Lục tuần Tàu”, Tôn Quốc Tường, Đại sứ đặc mệnh toàn quyền Trung Quốc tại Việt Nam, trong buổi họp báo sáng ngày 6/1/2010 ở Hà Nội, đã uốn nắn/chỉ đạo/khuyến cáo VN cần tạm gác lại vấn đề khúc mắc sau cùng trong quan hệ giữa hai nước là vụ tranh chấp Nam Hải (nguyên văn); mà chỉ nên dành ưu tiên cho hoạt động phát triển kinh tế xã hội, cụ thể là cùng khai thác tài nguyên biển đảo.

Tôn Quốc Tường đã chứng tỏ vị thế sứ thần đại hán tất yếu là phải bao trùm/khuất lấp/phủ kín cả quyền lực của lãnh đạo đảng và nhà nước ta, bằng lời huấn thị/bảo ban/đe nẹt rất mực thẳng thắn, như thể chữ triện đúc bằng nhôm ròng Nhân Cơ: “Hợp Tác Sẽ Phát Triển, Đấu Tranh Sẽ Thất Bại”!

Tôn Quốc Tường không cần đến chương trình phát thanh “Tiếng nói Vịnh Bắc Bộ” của tỉnh Quảng Tây vừa mới khai trương/phát sóng sau ngày quốc khánh Tàu vừa qua, bởi đã có hàng trăm báo/đài vốn là cơ quan ngôn luận/tiếng nói/diễn đàn của đảng bộ các thứ của ta cật lực giúp đỡ tán phát/tuyên truyền đến rộng rãi quần chúng nhân dân VN một kết luận tất yếu và (thông qua Ban tuyên giáo TW, cho nên) nhiều phần là duy nhất đúng, rằng: “…Lãnh đạo cấp cao hai nước đã nhiều lần đạt được nhận thức chung hết sức quan trọng. Đó là không để cho vấn đề Nam Hải (nguyên văn) ảnh hưởng đến sự phát triển, ổn định lâu dài, bình thường của quan hệ hai nước”.

Tôn Quốc Tường đã khiến Bộ 4T, thậm chí cả chính phủ của ta lên ruột/xanh mặt/ướt tã/mất ngủ… và đã ngắn gọn xóa sạch hàng nghìn trang báo của ta đăng tin ngư dân VN bị “tàu lạ” uy hiếp/cướp lưới/gỡ neo/đoạt tàu/thu cá/đánh đập/bắt ký giấy vi phạm/đòi tiền chuộc… chỉ bằng một lời phán gang thép: “Không nên đưa tin những việc xấu như thế này!”.

Tôn Quốc Tường đã lên lớp tập huấn/nắn gân đại trà cán bộ các cấp của ta một quan điểm toàn cục/đại cục nhất quán cần thiết là: “cần tăng cường sự hiểu biết chính trị để đảm bảo sự phát triển lâu dài của quan hệ song phương!”.

Buổi họp báo khá ồn ã, nhờ một vài câu hỏi cò mồi đậm tính xum xoe/khúm núm/cúc cung đến mức đáng khinh không đáng nhớ, theo kiểu xin thái thú nhận định về những điểm nổi bật trong 60 năm quan hệ, hay khi nào thì lãnh đạo VN có thể ca múa Như có bác Hồ (Cẩm Đào) trong ngày vui đại yến v.v…. Ngoài ra, có 2 câu hỏi cực kỳ bức xúc mà một số nhà báo tâm huyết chỉ có thể thầm thì với nhau sau lúc tan hàng/giải tán:

1. Do đâu và từ bao giờ mà tay đại sứ của TQ có thể hồn nhiên quy hoạch/áp đặt cho lãnh đạo VN một giải pháp cưỡng chế bao gồm 2 nội dung cực kỳ bất công/bất lợi là tạm gác tranh chấp và cùng nhau khai thác?

2. Do đâu và từ bao giờ mà tay đại sứ của TQ có thể tự trang bị cái lề thói ứng xử (ngoại giao) đầu gấu/kẻ cả/trịch thượng/vương-hầu/cha-con/chủ-tớ đối với VN như thế?

*

Quả Ớt Đánh Lừa Cái Lưỡi?

Tôn Quốc Tường chỉ xấc láo phát ngôn, nhưng nhất định không thể và không phải là tác giả của đề nghị “gác tranh chấp-cùng khai thác”.

Đối với nhiều người, giải pháp “gác tranh chấp-cùng khai thác” được nghe lần đầu là từ bài tham luận của GS Ji Goxing (Đại học Jiaotong), Viện trưởng Viện Nghiên cứu Chiến lược (của TQ) tại Thượng Hải – cũng là vị khách mời danh dự hàng đầu của buổi hội thảo quốc tế do Học viện Ngoại giao và Đoàn Luật Sư VN đồng đứng tên đăng ký tổ chức (tại Hà Nội hồi cuối tháng 11/2009 vừa qua) về chủ đề “Biển Nam Trung Hoa: Hợp Tác Vì Sự Ổn Định Và Phát Triển Khu Vực” (International Workshop on “The South China Sea: Cooperation for Regional Security and Development”).

Trên thực tế, giải pháp “gác tranh chấp-cùng khai thác” này cũng không phải do GS Ji Goxing nghĩ ra. Mà nguyên thủy là do Đặng Tiểu Bình đề xướng trong hội nghị quốc tế hồi tháng 10/1982 tại Tokyo (chỉ hơn 3 năm sau trận chiến “giáo trừng”, trong giai đoạn Việt-Trung đại xung đột/bất cộng đái thiên). Có nghĩa rằng nó là sản phẩm đã được tính toán rốt ráo từ rất lâu rồi của Bộ chính trị Trung Nam Hải.

- Vì sao khai thác chung? -

Các thỏa thuận về khai thác chung, nhằm mục đích phát triển nguồn tài nguyên, thường được coi là giải pháp tạm thời nhằm giảm xung đột giữa các bên tranh chấp, cố gắng không tạo ra ảnh hưởng nào tới yêu sách về chủ quyền lãnh thổ cũng như các quyền chủ quyền và quyền tài phán của từng quốc gia liên hệ.

TQ đòi thực hiện thỏa thuận về khai thác chung là nhắm vào các lợi ích riêng có thể tạm lược kê như sau:

Một là, gia tăng tính chất “song phương” luôn tạo tính tối ưu cho TQ, đặc biệt là trước khi VN có vai trò quan trọng hơn trong khối ASEAN vào năm 2010 này.

Hai là, TQ đánh quả lừa cho dư luận lầm tưởng rằng giải pháp này phù hợp với luật pháp và thực tiễn quốc tế, trong lúc Bắc Kinh gia công tìm kiếm thêm lợi thế khác về mặt pháp lý.

Ba là, phần lớn các khu vực mà TQ đề nghị khai thác chung đều nằm trên các thềm lục địa đang thuộc chủ quyền của nước khác, trong trường hợp này là của VN.

Bốn là, TQ vừa đề nghị khai thác chung, lại vừa củng cố tham vọng “Nam Hải hình lưỡi bò” chiếm trọn 3/4 Biển Đông cùng chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Năm là, lợi dụng/khai thác tối đa đề xuất “hợp tác cùng phát triển” trên biển Đông của nguyên Tổng bí thư Đỗ Mười, nêu ra trong chuyến viếng thăm Thái Lan vào tháng 10/1993, tức là hai năm sau khi VN nối lại quan hệ môi-răng với TQ.

Sáu là, TQ chờ đợi những tiền lệ từng có sẽ xảy ra lần nữa, là: “cái tạm thời hiện nay có khả năng trở thành vĩnh viễn sau này”.

- Vì sao gác tranh chấp? -

Đề nghị khai thác chung tại khu vực biển Đông đang tranh chấp chỉ có thể được đưa vào hoạt động khi các bên thể hiện thiện chí và quyết tâm trong việc hợp tác, thông qua nỗ lực xây dựng lòng tin, nhất trí ngăn chận nguy cơ xung đột… Tuy nhiên, cho tới nay, những điều kiện cần thiết đó đều còn thiếu, đặc biệt là thiện chí và lòng tin.

TQ đã đặc phái 6 học giả ồ ạt tham dự cuộc hội thảo quốc tế “Biển Nam Trung Hoa: Hợp Tác Vì Sự Ổn Định Và Phát Triển Khu Vực” là nhằm thử nghiệm một cách tiếp cận mới và có tính áp đảo mạnh đối với VN trong bối cảnh:

- TQ là nước có lợi thế nhất về sức mạnh quân sự lẫn kinh tế đối với các nước đang tranh chấp, và là quốc gia có yêu sách giành phần lớn nhất (gần 80% của tổng diện tích 3 triệu rưỡi cây số vuông) trên biển Đông.

- Các quốc gia tranh chấp trên biển Đông chưa thực sự có đủ sự tin cậy lẫn nhau, trong lúc Bắc Kinh vẫn luôn có ưu thế “giềng mối quân-thần” đối với Hà Nội.

- Các sự kiện ngư dân VN bị nạn liên tục trên biển Đông chỉ là mặt nổi của tảng băng chủ quyền biển đảo mà TQ đã cưỡng chiếm và quyết giữ.

- TQ vừa muốn trấn an/xoa dịu tình hình sóng gió biển Đông trước dư luận quốc tế, lại vừa mạnh dạn phô trương thanh thế với lãnh đạo VN, thông qua một số sự kiện giải quyết bất đồng bằng sức mạnh quân sự được chuẩn bị bội phần chu đáo hơn thời 1979.

- TQ cần tách rời VN ra khỏi quần thể các nước Đông Nam Á đang có tranh chấp chủ quyền trên biển Đông để dễ “đấu tay đôi”, và dễ cho cả việc áp dụng tình cảm thầy-trò cùng nghĩa vụ cộng sản với lãnh đạo VN.

- TQ sẽ sẵn sàng sử dụng mọi phản ứng bạo lực/kinh tế/bẫy sập… (và cả những con bài tẩy ham hố/nhơ nhuốc của lãnh đạo VN) nhằm khẳng định xem ai là chủ “Biển Nam Trung Hoa”, cho đến khi lãnh đạo VN nghiêm chỉnh chấp hành giải pháp của TQ và tự nguyện dẹp yên dư luận quần chúng VN!

- Trong thời gian cần thiết để có thể kiếm thêm áp lực về Nguyên tắc ứng xử trên biển Đông và cả ưu thế hùng mạnh của đại hạm đội Nam Hải, TQ cần “giữ nguyên trạng” bằng giải pháp “gác tranh chấp”, bởi cầm chắc là VN không thể chạy đua vũ trang với TQ.

*

Đá Cuội Lăn Theo Gót Hài!

Đã từng có lắm người lầm tưởng rằng VN và TQ là hai nước chính yếu nắm giữ chìa khóa giải quyết vấn đề biển Đông.

Tôn Quốc Tường, với món quà Đầu Năm Hữu Nghị cực kỳ khó nuốt mà cũng không dễ nhả cho phía lãnh đạo VN, đã thực sự đơn phương xác quyết là VN không có vai trò/vị trí/quyết định gì trong vấn đề đó, xét trên căn bản quan hệ Việt-Trung bất xứng hiện giờ.

Cái lề thói ứng xử (ngoại giao) đầu gấu/kẻ cả/trịch thượng/vương-hầu/cha-con/chủ-tớ của sứ thần Bắc Kinh đối với VN như thế không phải tự nhiên trên trời rơi xuống. Tôn Quốc Tường, hay bất kỳ một đại sứ đặc mệnh toàn quyền nào khác của TQ tại Hà Nội cũng đều có thể có thái độ khinh mạn như thế. Bởi vì, không sẵn tay sai hẳn khó có quan thầy!, chính lãnh đạo đảng và nhà nước ta đã đưa đường/trải thảm/kéo ghế/bắc thang/mời mọc các quan thầy TQ tọa mông vào vị trí cha chú/trưởng thượng để có thể ứng xử xấc xược/trịch thượng với VN, thông qua một số diễn tiến khó quên:

- 1951: Hà Nội không hề dám mở mồm phản đối khi Chu Ân Lai trình bày bản hải đồ lưỡi bò, ngay trong cuộc họp hữu nghị đầu tiên giữa hai đảng/nhà nước.

- 1955: Hà Nội cho phép hồng quân TQ đánh đuổi tàn quân của Tưởng Giới Thạch rồi toàn quyền chiếm giữ đảo Bạch Long Vĩ của ta.

- 1956: Ung Văn Khiêm, Thứ trưởng Ngoại giao VN, trong buổi tiếp đón tham tá sứ thần TQ là Li Shimnin ngày 15/6/1956 tại Hà Nội, đã chính thức xác nhận rằng: “Dựa vào những tài liệu mà phía Việt Nam có trong tay, các đảo Tây Sa và Nam Sa, xét về mặt lịch sử, là thuộc về Trung Quốc”. Cũng trong buổi tiếp tân này, Lê Lộc , Xử lý thường vụ Giám đốc Phòng Á châu Sự vụ VN, đã bổ túc thêm cho rõ nghĩa: “Trên mặt lịch sử, các đảo Tây Sa và Nam Sa đã là đất đai của Trung Quốc từ đời Nhà Tống (960-1279)”.

- 1958: Công hàm của Thủ tướng nước VNDCCH Phạm Văn Đồng gửi Thủ tướng nước CHNDTH Chu Ân Lai đã “ghi nhận và tán thành” những yêu sách trên bản tuyên bố ngày 04/09/1958 về lãnh hải của TQ, trong đó, Bắc Kinh khẳng định “các đảo Bành Hổ, Đông Sa, Tây Sa, Trung Sa, Nam Sa và các đảo khác là của Trung Quốc”.

- 1960: Các sách giáo khoa môn Ðịa lý dạy học sinh VN đã hồn nhiên viết rằng: “Các hòn đảo từ quần đảo Nam Sa, Tây Sa, qua Hải Nam, Ðài Loan, là một bức trường thành bảo vệ Trung Quốc”.

- 1972: Cục Bản đồ trực thuộc Phủ thủ tướng VNDCCH đã phổ biến một ấn bản họa đồ thế giới, trên đó tên đảo Hoàng Sa và Trường Sa của VN bị thay bằng tên đảo Tây Sa và Nam Sa theo cách gọi của TQ.

- 1974: Hà Nội lặng im/đồng lõa/cổ vũ cho sự kiện hải quân TQ đánh chiếm quần đảo Hoàng Sa, trong lúc hải quân của quân lực Việt Nam Cộng Hòa (mà Hà Nội coi là kẻ thù chính bấy giờ) đã một lòng hy sinh cố giữ đảo.

- 1977: Nguyên TT Phạm Văn Đồng xác nhận ý nghĩa bức công hàm 14/9/1958 rằng: “Lúc đó là thời kỳ chiến tranh nên tôi phải nói như thế!”.

- 1979-1991: Hà Nội tuyên truyền rộng rãi để giải thích việc huy động/hy sinh sức dân trước trận chiến “giáo trừng” của “bọn bá quyền bành trướng Bắc Kinh” bằng 3 bộ văn kiện: quyển “Sách Trắng 1979” của Bộ Ngoại giao VN, quyển “Phê phán chủ nghĩa bành trướng và bá quyền nước lớn của giới cầm quyền phản động Bắc Kinh” (Nxb Khoa Học Xã Hội – Hà Nội, 30/08/1979), và bộ sách “Sự Thật Về Quan Hệ Việt Nam-Trung Quốc Trong 30 Năm Qua” (Nxb Sự Thật, Hà Nội 10/1979). Nhưng đến năm 1991, khi cần quay lại tìm chỗ chống lưng ở Bắc Kinh thì Hà Nội liền chỉ thị cho chỉnh trang lại các sách giáo khoa môn Sử VN, và ra lệnh thu hồi các quyển/bộ sách đó, để tránh làm phật ý quan thầy. Cũng từ bấy tới nay, mọi Đại hội Toàn đảng của CSVN đều có Đại biểu cấp UV-TW, thậm chí cấp UV-BCT của TQ sang cố vấn/sắp xếp/chỉ đạo/phê chuẩn/tọa thị ở hàng ghế danh dự.

- 1992: Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Mạnh Cầm xác nhận trong cuộc họp báo ngày 03/12/1992: “Trung Quốc đã cung cấp cho Việt Nam sự giúp đỡ to lớn và quý giá… Những lời tuyên bố của các đồng chí lãnh đạo của chúng tôi (Phạm Văn Đồng/Ung Văn Khiêm…) lúc đó là cần thiết!”.

- 1999-2000: Lãnh đạo đảng và nhà nước âm thầm ký kết với TQ các hiệp định bất bình đẳng về biên giới và lãnh hải, bất cần/bất chấp ý kiến của nhân dân hay thậm chí của cơ quan nghiệp vụ đóng dấu là quốc hội; bất cần/bất chấp cả việc công bố các văn kiện/bản đồ liên hệ.

- 2005-2009: Hà Nội im lặng trước hàng chục sự kiện hải quân TQ ngăn chận/bắt giữ/đòi tiền chuộc/tịch thu ghe tàu/đánh đập/cướp bóc/thậm chí bắn chết ngư dân Thanh Hóa/Quảng Ngãi mưu sinh trên lãnh hải VN. Các bản tin tiếng Việt chỉ được viết mơ hồ là do “tàu lạ” đâm chìm. Ngoài ra, các hãng dầu khí BP, Exxon bị TQ đuổi ra khỏi vùng khai thác trên hải phận VN cũng đã diễn ra âm thầm trong bóng tối của truyền thông VN.

- 2007: Quốc vụ viện TQ ra quyết định ngày 02/12/2007 thành lập huyện lỵ hành chánh Tam Sa, bao gồm cả Hoàng Sa và Trường Sa. Hà Nội chỉ lập cập lên tiếng ở cấp rất thấp/không đáng kể là người phát ngôn Bộ Ngoại giao. Đồng thời, lại ồn ào lệnh cho nhà trường ra thông cáo chính thức cấm sinh viên tụ tập, và lệnh cho công an triệt để đàn áp các cuộc biểu tình tuần hành phản đối của sinh viên/thanh niên VN trước đại sứ quán và tổng lãnh sự quán TQ tại Hà Nội và Sài Gòn, tuyệt đối thực thi nghiêm chỉnh huấn thị/khuyến cáo của Bộ Ngoại giao TQ là: “Trung Quốc đang quan chú cao độ và hy vọng chính phủ VN có thái độ đầy trách nhiệm, làm những hành động thiết thực, ngăn chặn những diễn tiến, để tránh tổn hại quan hệ giữa hai nước”. Để hồi đáp, chính TT Nguyễn Tấn Dũng đã chỉ thị cho cán bộ đảng viên cả nước dồn sức tổ chức cuộc rước đuốc thế vận 2008 hết mực trọng thị và an toàn bằng một thành Hồ rợp cờ TQ.

- 2009: Là cao điểm độ hèn của lãnh đạo đảng và nhà nước CSVN, thông qua hàng chục sự kiện và những phát ngôn được bình bầu là cực kỳ ấn tượng trong năm. Đặc biệt là các hiển thị không thể nào nhục hơn được nữa trên trang báo điện tử chính thống của đảng CS và của bộ Công thương VN.

Tôn Quốc Tường đã củng cố vững chắc vị trí Thái Thú tại VN là nhờ vào các trụ đồng vững chắc nói trên do lãnh đạo CSVN trồng lấy. Một vài tay dân báo mê nhạc Trịnh đã mạn phép tác giả sửa lời một dòng nhạc để tặng mừng lãnh đạo ta: “Quyết tâm làm đá cuội, nguyện lăn theo gót hài…” Thái Thú.

*

Bùn Khô, Lông Ngỗng Bay Đầy

Với một bản đồ Nam Hải hình lưỡi bò (nhen nhúm hình thành từ giữa thế kỷ trước), rõ ràng là TQ nhất quán kiểu TQ mà tây phương vẫn thường mô tả là một vương quốc đứng giữa gầm trời chỉ có chư hầu chứ không có láng giềng. Đại diện cho nó, Tôn Quốc Tường rõ là xấc láo, nhưng chưa hẳn đáng căm bằng những kẻ bồi đắp cho nó mọi điều kiện để xấc láo.

Với một thái độ rón rén/khúm núm/cúi đầu/cong gối của lãnh đạo đảng và nhà nước CSVN, cho dù Hiệp ước 1874 tuyên bố chấm dứt quan hệ mẫu quốc–chư hầu giữa TQ với VN, rõ ràng là giới cầm quyền đương thời của ta vẫn cố sức nhất quán theo kiểu CSVN: Tự nguyện gia công tiếp tục vị trí vai trò chư hầu, chỉ nhằm để báo ơn TQ trợ giúp họ cướp chính quyền và giữ rịt quyền. Rõ ràng lãnh đạo ta nhất thiết/nhất quán/nhất định/nhất trí thế chấp đất nước để tiếp tục cai trị và bòn rút nhân dân theo một chủ nghĩa phi nhân/lỗi thời/lạc hậu đã bị đào thải vào nhà xí khắp nơi trên thế giới.

Với một con tim nhân bản và tấm lòng nhiệt thành mơ ngày Việt Nam cất cánh, mỗi người trong chúng ta hẳn cũng đã nhất quán phân định rõ ràng đâu là chân tướng nội thù trước mặt, đâu là nguy cơ ngoại xâm sau lưng. Muốn giữ nguyên bờ cõi và tránh một giai đoạn Bắc thuộc khác, hãy cùng nhau góp sức trước tiên chấm dứt thời đại của những con bạc bịp đê hèn vừa sẵn sàng thế chấp đất nước vừa lén rắc lông ngỗng dẫn đường cho giặc.

Hoàng Sa và Trường Sa muôn đời là của Việt Nam!

9/1/2010 – Chào mừng ngày Truyền thống Học sinh – Sinh viên.

Blogger Đinh Tấn Lực

Những Mảnh Đời Kẻ Khác

Những Mảnh Đời Kẻ Khác
(The Lives of Others)
...
7 giải thưởng LOLA
3 giải thưởng điện ảnh Âu châu
Phụ Đề Chữ Việt

Link vào phim:
http://www.vimeo.com/8168038

Hà Văn Thịnh - Định mệnh

Hà Văn Thịnh - Định mệnh


Hà Văn Thịnh, Khoa Sử Đại học Khoa học Huế
Tặng Kami nhân ngày đầu năm đọc bài về chiến tranh của ông (bà).


Truyền thuyết kể
Gióng đánh giặc khi mới lên ba
Có dân tộc nào nhọc nhằn hơn thế?
Có nơi đâu
Lịch sử ngập chìm dâu bể
3.000 năm chưa hết giặc trước hiên nhà?

Định mệnh thét gào lịch sử bão giông
Ta giữ nước nhiều gấp bội phần
Thời gian dựng nước
Cho mãi đến hôm nay vẫn chưa thể nào có được
Bởi hạnh phúc
Cũng trông chừng sau, trước
“Nửa cái hôn phải tỉnh thức ngó quân thù”*

Lịch sử nhắc hoài câu chuyện Mẹ Âu Cơ
Sao ta phải lên rừng, xuống biển?
Kẻ cướp trên núi cao, dưới sóng ngầm hung hiểm
Bao năm thâm độc rình mò…

Chúng muốn ta quỳ - mỏi gối xin, cho
Để Hoàng Sa, Trường Sa máu cuộn cùng nước mắt
Để nỗi đau hóa lặng câm giữa hai hàm răng nghiến chặt
Để xa xót tủi hờn nhức mãi tâm can…

Không!
Lịch sử nói rằng sóng nước Bạch Đằng Giang
Rừng Chi Lăng, cửa Chương Dương, Hàm Tử…
Xác giặc chất chồng, bạo tàn mục rữa
Việt Nam ơi, không nhát sợ bao giờ!

Chúng nói rằng có cốt khư** người Trung Quốc ở Hoàng Sa
Sao không đến gò Đống Đa để bới thêm, nhiều lắm?
Thanh Triều ư? Bụi ác tàn ngàn dặm
Bão Tây Sơn quét sạch, một tuần!

Định mệnh nhắc ta rằng Đất Việt gian truân
Nhưng chữ S chẳng thể nào gục gãy
Người trước ngã, người sau đứng dậy
Cối Kê ư? “Hoan Diễn do tồn”.

Lịch sử dạy ta rằng đảo, sóng Biển Đông
Là máu thịt của giang sơn tổ quốc
Là một nửa của hồn thiêng Đất - Nước
Chẳng thể đem cho, đem bán vật vờ!

Ta hiểu cuộc đời không phải giấc mơ
Nên trang sách phải tựa mình bên giá súng
Định mệnh bắt đầu bằng linh danh Phù Đổng
Tuổi thơ giữ nước quên mình

Định mệnh cảnh báo rằng
Nhẹ dạ Mỵ Châu ơi
Một phút buông trôi
Ngàn năm không xóa nổi
“Tình” Ải Bắc
Là khôn lường gian dối
Lông ngỗng bay
Trắng bợt chữ “NGỜ”?

Định mệnh nhắc em rằng
Xin hãy đừng quên
Sống với nguy nan
Là bổn phận của muôn vàn con dân Việt
Đất nước hôm nay được sinh thành từ da diết:
Thà làm ma nước Nam!
Thà cả Trường Sơn cháy hết!
Chẳng cam tâm quỳ xuống, bao giờ(!)

* Thơ Chế Lan Viên
** Tàn tích xương người chết

Huế, 22.12.2009.

Sphinx chúc tết!

Sphinx chúc tết!

Năm này tớ chẳng chúc tết ai
Bởi xuân chưa đến, họa còn dài
Đếm thử bao nhiêu người bị bắt
Nhìn lại bạn bè, thiếu những ai...

Điếu Cày oan án đợi ngày ra
Thanh Nghiên năm mới nhớ mẹ già
Tiến Trung, Duy Thức và Công Định
Chờ đợi phiên tòa lũ quỷ ma...

Công Nhân thọ án vẫn chưa xong
Văn Đài cũng vậy, đội ách còng
Cha Lý dạo này sức khỏe yếu
Thân vẫn lao tù xứ bất công...

Pháp Quyền phòng luật đã tang hoang
Chủ nhân, gia quyến thấm bẽ bàng
Trần Luật bây giờ không giấy phép
Thái Hà kỳ án vẫn hoang mang...

Phiên tòa mới xử Trần Anh Kim
Năm năm, sáu tháng sống im lìm
Giam thân ở chốn tù cộng sản
Ý chí chắc còn thức bao đêm...

Thanh Thủy, nữ văn sĩ hiên ngang
Lỡ sa cạm bẫy bọn hung tàn
Trót gây thương tích 1 thằng ảo
Giờ đành phải chịu bị bắt giam...

Thái Hà năm mới lễ ra sao?
Loan Lý giáo dân đón tết nào?
Chuông tháp Tam Tòa còn có đổ?
Tăng nhân Bát Nhã có gầy hao?...

Mẹ Nấm Như Quỳnh chị của em
Tết rồi có phải vẫn nhá nhem
Những ngày J ấy còn luôn nhớ
Thôi hãy vui đi, kệ lũ hèn....

Buôn Gió đại ca ở chốn nào
Có còn góp Gió nhốt vào bao
Chờ hết mùng ba lại đem bán
Kệ lũ côn đồ chúng bám theo...

Đoan Trang này bạn của Sphinx ơi
Đầu năm xin nhắn gửi đôi lời
"Chân cứng đá mềm vì chính nghĩa
Khó khăn nhưng dạ sẽ thảnh thơi"...

Bây giờ nhìn chúng nó chúc nhau
Hà Nội khom lưng chúc bên Tàu
"Kính dâng anh cả 2 quần đảo
Biên giới tùy anh liệu trước sau"...

"Ngư dân là cái đám ngu si
Súng anh sẵn đạn cứ bắn đi
Thằng nào lên tiếng em bẻ cổ
Anh cứ thong dong, chớ lo gì"...

"Bùn đỏ bây giờ xử lý sao?
Mà thôi kệ nó có gì đâu,
Cứ thải ra đó cần chí tính
Anh đừng lo nghĩ kẻo đau đầu"...

"Quân đội em giờ đổi áo xanh
Panô hình lính mượn của anh
Tiếc là chúng nó đà phát hiện
Nên phải gỡ đi, dẫu chẳng đành"...

...

Thế đấy bạn à, nghĩ thử đi
Lãnh đạo hay là lũ phỉ chi
Hán nô giờ cướp quyền lãnh đạo
Tương lai nước Việt sẽ thành gì?!!!


http://www.facebook.com/home.php?filter=app_2347471856#/notes/deadman-sphinx/sphinx-chuc-tt/256229437227

Sea Free - Lòng Yêu Nước

http://www.facebook.com/notes.php?id=1788855422

Lòng Yêu Nước
. Sea Free
Có một dạo, tôi hồn nhiên tán tụng những thành tựu khoa học của thế giới văn minh.
Tôi say sưa ca ngợi tiến bộ xã hội ở các nước Âu-Mỹ.
Tôi không che giấu nỗi niềm khao khát đặt chân đến những miền đất được mệnh danh là xứ sở Tự Do ấy...
Không ngờ, có người bóng gió:
- Người Việt Nam phải biết yêu nước Việt Nam!

Tôi hơi bực mình nên đốp lại liền:
- Thế nào gọi là yêu nước?

Tịt. Không trả lời được! Chắc người nọ không trơ trẽ đến nỗi nêu lên định nghĩa rằng, yêu nước là PHẢI ca ngợi đất nước Việt Nam tươi đẹp giàu mạnh, nhân dân Việt Nam anh hùng...

Rồi một ngày tôi tỏ ý bất mãn vì sao người Việt học toán rất giỏi mà nền công nghiệp phần mềm í ẹ quá!
Lại phải nghe cái luận điệu tương tự ấy, lần này của một kẻ nhỏ tuổi hơn mình.

Tôi nhẹ nhàng hơn lần trước:
- Ồ vậy hả? Chú em chắc là người giàu lòng yêu nước chứ không đến nỗi như đám nhóc bây giờ thuộc phim sử Tàu hơn sử Việt. Anh ra trường lâu quá, không nhớ rõ nữa, chú mày thử kể sơ sơ các triều đại chính của Việt Nam từ xưa đến triều Nguyễn xem!

Ú ớ. Tôi thêm một câu hỏi phụ:
- Thế Lê Lợi là ở thời Tiền Lê hay Hậu Lê?

Tắc tị luôn. Tôi cười:
- Thế mà cũng dám lên lớp người ta về lòng yêu nước!
Tất nhiên là sau đó tôi cũng kể sơ lược từ Trưng, Triệu, Ngô, Đinh, Lê, Lý, Trần, Hồ, Hậu Lê, Trịnh-Nguyễn... chứ không phải chơi trò "tay không bắt giặc" - đem chuyện mình không biết đi hỏi đố người khác!

Sở dĩ ngày khai bút đầu năm mới này lại đi kể những câu chuyện cũ mèm ấy là vì tôi nhận thấy rằng, việc lạm dụng hai chữ "yêu nước" ngày càng trở nên trầm trọng. Để bóp nghẹt tiếng nói đối lập, người ta sẵn sàng chụp cho người bất đồng chính kiến những cái mũ nặng khủng khiếp, nào là "phản quốc", nào là "lật đổ chính quyền nhân dân"...


LÒNG YÊU NƯỚC

Tại sao bạn yêu đất nước này?

Bạn đừng vội đọc tiếp, mà hãy thử trả lời câu hỏi trên theo cách đơn giản nhất. Có thể viết nhanh ra giấy bằng những cái gạch đầu dòng, hoặc gõ tốc ký vào Notepad, hay chỉ cần nghĩ thoáng qua trong đầu ý chính câu trả lời là được.

Tôi tin rằng mỗi người sẽ có một câu trả lời không giống nhau.
Theo một vài khảo sát nhanh trước đây, phần lớn nêu nguyên nhân: Việt Nam là đất nước giàu đẹp có rừng vàng biển bạc và dân tộc Việt Nam có truyền thống chống ngoại xâm anh hùng.
Có ý kiến nói đơn giản làm con người thì phải yêu đất nước mình thôi. Có người không lý giải nguyên do nhưng khẳng định ai cũng cần phải yêu nước hết.

Nhận thức khác nhau là điều bình thường, và tôi cũng có nhận thức của riêng mình. Xin nhấn mạnh rằng, đây là tôi muốn chia sẻ nhận thức cá nhân để bạn cùng tham khảo, chứ không hề có ý gọi nó là một định nghĩa thế nào là lòng yêu nước:

- Tôi yêu đất nước này vì bản thân tôi là một phần trong đó, vậy thôi.

Ông bà cha mẹ tổ tiên tôi đã sinh sống và lớn lên ở đây, từng miếng đất, thửa ruộng, dòng sông... đều có dự phần trong việc kiến tạo nên những tế bào của cơ thể tôi hiện tại.
Vì thế, xin đừng có ý nghĩ rằng yêu nước là một cái gì đó cao siêu vời vợi, hay yêu nước là đặc quyền chỉ dành riêng cho một nhóm người, một đảng phái nào đó... Yêu nước, trước hết đó là yêu chính bản thân bạn.

Sự thật là như vậy, xin thưa nhỏ (nói bằng tiếng Việt rất khẽ thôi nhé) với các bạn rằng: Việt Nam chưa phải là đất nước giàu đẹp nhất trên thế giới này đâu, và dân tộc Việt Nam cũng chưa hẳn là dân tộc anh hùng nhất trên quả địa cầu này!

Nhưng không phải vì thế mà chúng ta không yêu mến đất nước này, đúng không?


Làm sao thể hiện lòng yêu nước?

Một số người thường gán mặc nhiên lòng yêu nước với một hành động hy sinh anh dũng trên chiến trường.
Thật ra, lòng yêu nước được thể hiện bằng nhiều hình thức trên một phạm vi rất rộng. Không nhất thiết phải đổ máu hy sinh, cầm gươm ôm súng xông pha nơi chiến địa mới thể hiện được lòng yêu nước.

Tổ Quốc bao gồm phần lãnh thổ hữu hình, con người và tất cả những giá trị vô hình gắn liền trong suốt chiều dài lịch sử. Như thế, lòng yêu nước bao gồm cả yếu tố thời gian: quá khứ, hiện tại và tương lai.

Chúng ta đã yêu nước mãnh liệt bằng việc ca ngợi truyền thống chống ngoại xâm vẻ vang trong quá khứ!

Chúng đang yêu nước hối hả bằng cách ra sức làm giàu với biện minh "Dân giàu nước mạnh" ở hiện tại!

Vậy chúng ta thử hình dung đất nước này tương lai sẽ ra sao? Các thế hệ mai sau sẽ phải trả món vay nợ từ các ngân hàng khắp nơi trên thế giới là bao nhiêu? Môi trường sống đến lúc đó bị hủy hoại tới mức nào?

Trong thời buổi đạo đức xã hội suy đồi, nghề kinh doanh chức quyền mang lại mối lợi kếch xù, thì việc làm giàu cá nhân có bảo đảm cho đất nước hùng mạnh được hay không?

Xuyên suốt chiều dài lịch sử của dân tộc, chúng ta hãnh diện về truyền thống chống ngoại xâm vẻ vang của ông cha, đó là điều không cần bàn cãi. Thế nhưng, đã mấy ai chịu đặt câu hỏi phản biện cho mặt trái của lớp son kiêu hãnh ấy:

- Vì sao chúng bị xâm lăng, vì sao chúng ta bị đô hộ?

Vì thế nước yếu nên mới bị như vậy. Cái chu kỳ "bị đô hộ - giành độc lập - bị đô hộ - giành độc lập..." cứ tái diễn trong hơn 4000 năm lịch sử không đáng làm cho chúng kinh hãi hay sao???
Điều ấy chứng tỏ khiếm khuyết cố hữu của người Việt ta từ xưa đến nay là không chịu tận dụng cơ hội quý báu lúc thời bình để phát triển sức mạnh quốc gia.

Điều ấy đang được lặp lại suốt 35 năm qua!

Chúng ta đã ngủ quá say sưa trong giấc mộng anh hùng đã "chiến thắng vẻ vang hai đế quốc to"!
Giấc mơ ấy lại được tô hồng và đóng khung trong cái ảo giác của thiên đường Cộng sản Chủ nghĩa.
Cho đến khi bị Liên Xô và các nước Đông Âu dội cho mấy gáo nước lạnh vào những năm 1989-1991, chúng ta vẫn không chịu thức tỉnh. Đảng và Nhà nước ta tiếp tục đưa toàn dân ta ngủ nướng với một giấc mơ mới: "Kinh tế thị trường theo định hướng XHCN"!!!

Tư bản đỏ Việt Nam thời nay đã làm giàu như thế nào?
Có phải dựa vào tài năng như tỷ phú Bill Gates hay không?
Bao giờ đất nước ta tiến lên CNXH? Hay thực chất đó chỉ là cái bình phong che chắn hành vi trục lợi của một nhóm người?

Chẳng lẽ không có ai thể hiện tinh thần yêu nước trong giai đoạn nguy cấp này hay sao?
Chắc chắn là có, nhưng làm thế nào để nhận ra họ không phải là điều dễ!


Ai là những người yêu nước hiện nay?

Vị tổng thống da màu đầu tiên của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ thành công với chiến dịch tranh cử: Chúng ta cần thay đổi (Change We Need). Một quốc gia dẫn đầu thế giới trên nhiều lãnh vực lại ý thức sâu sắc vai trò của việc phải thay đổi, phải cải cách. Đơn giản là họ nhận thức được tốc độ phát triển kinh hồn của xã hội trong kỷ nguyên tri thức.

Chúng ta cũng có người đã ý thức được điều ấy. Tuy nhiên, họ nhận ra mình chỉ là thiểu số. Họ bèn tập hợp nhau lại, thành từng nhóm, tuy tôn chỉ và hành động có chút khác biệt, nhưng tất cả đều chung một mục tiêu là đưa con thuyền Việt Nam chệch khỏi lộ trình hiện tại. Đó là lộ trình đi đến bờ vực của xã hội độc tài, phi nhân quyền.

Vậy họ đâu cả rồi, là những ai vậy?

Chua xót làm sao, những người nổi bật nhất trong số họ đang ở bên kia chấn song của nhà tù. Kẻ đã bị kết án, người sắp bị đem ra xét xử với tội danh "Âm mưu lật đổ chính quyền".

Những lời kêu gọi cải cách ôn hòa chỉ bằng con chữ và lời nói lại có thể đe dọa đến an ninh quốc gia hay sao? Điều ấy chứng tỏ nền an ninh quốc gia này được xây dựng trên căn cứ của bạo lực và không đặt điểm tựa vào lòng nhân.
Quy kết tội danh "lật đổ chính quyền" với vật chứng là ngòi bút, bàn phím hay chiếc microphone khác nào thừa nhận thể chế này là kẻ thù của lẽ phải, là hiện thân của bạo lực?

Không một ai muốn sống trong xã hội thiếu vắng lòng nhân và công lý đến như vậy!

Nếu được đứng vào vị trí của người biện hộ trước tòa, chúng ta có ngần ngại để chìa cánh tay khẳng khái về phía họ, và dõng dạc:

- Tôi tin rằng những vị đứng sau vành móng ngựa kia HOÀN TOÀN VÔ TỘI, họ là những NGƯỜI YÊU NƯỚC!

Không Sẵn Tay Sai Hẳn Khó Có Quan Thầy!

Không Sẵn Tay Sai

Hẳn Khó Có Quan Thầy!

. Đinh Tấn Lực

Trang mạng http://bauxitevietnam.info/ lại phải cố khắc phục thêm một sự cố “bất thường”, sau gần một năm hoạt động vượt mặt tất cả các trang mạng chính quy trong nước, với lượng truy cập kỷ lục cả về số lượt, tốc độ, lẫn mức độ hiệu quả trên tổng số nhân sự hoặc chi phí.

Sự cố “bất thường” từng nhiều lần xảy ra đó, âu cũng là điều có thể mường tượng được từ đầu, hoặc, chí ít là chẳng mấy ai coi đó như một “bất ngờ” trên cái nền tảng sinh hoạt chính trị nghiệt ngã Thậm hèn với giặc-Cực ác với dân như Rứa. Và chẳng phải đó cũng chỉ là hiệu ứng/hệ quả của một nền ngoại giao mẫu-tử/thầy-trò/chủ-tớ hay sao?

Hãy cùng lược xem mối quan hệ này “hữu hảo” tới đâu trong năm 2009?

*

- Thiên Tuế Ta – Lục Tuần Tàu -


Đáp ứng lời thỉnh cầu của Hà Nội (ngày 15/1/1950), Bắc Kinh là chính phủ đầu tiên trên thế giới đã chính thức công nhận nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (ngày 18/1/1950). Sau đó mới lần lượt tới Liên Xô và các nước Đông Âu cũ (mà nay đã cực lực dân chủ hóa để cất cánh). Tức, chỉ còn dăm ngày nữa là đến dịp kỷ niệm 60 năm thiết lập quan hệ bang giao giữa Việt Nam với các nước vừa kể.

Tuy nhiên, xem ra, chỉ riêng đối với Trung Quốc (TQ) là có phần đặc biệt nổi trội hơn cả: đảng và nhà nước ta đang cất công đề xuất/ráp nối/phối hợp với đại lễ 1000 năm Thăng Long, gọi là để cho dịp kỷ niệm 60 năm hữu nghị này gia tăng thêm bội phần long trọng!

Kể cũng là “có cơ sở”! Bởi, công lao của Bắc Kinh đã từng đỡ đầu/trợ giúp/chỉ đạo cho đảng và nhà nước ta, tính từ thời Điện Biên cho tới Mậu Thân, tính từ chiến dịch biên giới tới cải cách ruộng đất, tính cả nhân/vật/tài lực, tính cả cố vấn/chuyên gia lẫn tham mưu/chỉ huy, tính cả kinh viện lẫn quân viện… hẳn phải ví như Thái Sơn/Nam Hải. Và bởi, quan trọng hơn cả, hiện chỉ có TQ là còn chút khả năng trước một nhúm đầu cúi tay ngửa, như chủ nhiệm một trại mồ côi trông coi toàn bộ cộng đồng cộng sản còn sót lại, sau khi các chế độ thuộc Quốc Tế III đành buông thắt lưng nhau mà tan rã.

Cách tính “1000 tuổi Ta-60 tuổi Tàu” đầy ắp chất cảm kích/cúc cung/sáng tạo như trên, hóa ra, cũng là một cách báo đền ơn sâu nghĩa nặng. Rứa là tròn chữ quân thần. Rứa là phải đạo bề tôi. Rứa là đẹp lòng thiên tử.

Trong bản Thông cáo báo chí chung hồi cuối tháng 8/2006, nhân chuyến khấu kiến Bắc Kinh của vợ chồng Nông Đức Mạnh, TQ đã khẳng định sự hài lòng về mối quan hệ giữa hai đảng và nhà nước.

Sự hài lòng đó, nhờ nỗ lực phi thường của lãnh đạo đảng và nhà nước ta, đã kéo dài và gia tăng gấp bội trong năm 2009 này:

1. Thăm Thẳm Mốc Biên Giới

Theo TTXVN: “Vào những giây phút giao thừa chào năm mới 2009, các lực lượng tham gia phân giới cắm mốc Việt-Trung có thể tự hào báo cáo với Tổ quốc Việt Nam yêu quý đã hoàn thành nhiệm vụ được lãnh đạo Đảng và Chính phủ hai nước giao phó: kết thúc phân giới, cắm mốc biên giới đất liền Việt-Trung…”.

Biên giới trên đất liền Việt Nam-Trung Quốc dài khoảng 1.406km, giữa 7 tỉnh cực Bắc của VN là Điện Biên, Lai Châu, Lào Cai, Hà Giang, Cao Bằng, Lạng Sơn và Quảng Ninh, tiếp giáp với 2 tỉnh cực Nam của TQ là Vân Nam và Quảng Tây. Toàn tuyến biên giới Việt-Trung được đánh dấu bằng 1971 mốc, bao gồm 1378 mốc chính và 593 mốc phụ.

Trong đó, một số cột mốc mới cáu đã nhanh chân chạy vào cương thổ nước ta, trong lúc hơn bảy trăm cây số vuông đất cũ đã cùng ải Nam Quan và một phần thác Bản Giốc đã theo quyết định của “trên” mà âm thầm trườn sang nước bạn.

Rứa không là cái cốt tay sai rất đáng cho quan thầy hài lòng hả dạ đó sao?

2. Mênh Mông Tình Hữu Nghị

Kỷ niệm 30 năm cuộc chiến đấu vệ quốc oai hùng của quân dân ta gìn giữ biên cương phía Bắc hồi tháng 2/1979, với núi xương sông máu của hàng chục vạn thanh niên rường cột nước nhà đổ ra bảo vệ từng tấc đất dọc biên trước cuộc tiến công vũ bão gọi là “giáo trừng” của bọn giặc bá quyền nước lớn… đã chìm sâu vào một cõi im lặng gần như tuyệt đối của hàng ngàn cơ quan báo đài chính quy của đảng và nhà nước ta. Lý do? Đã có chỉ thị của Ban Tuyên Giáo Trung Ương nghiêm cấm hệ thống báo đài ở đây đưa tin/viết bài đề cập đến cuộc xâm lăng 1979 của TQ.

Quyển “Sách Trắng 1979” của Bộ Ngoại Giao đã mất biến theo những dòng sử cải biên. Quyển “Phê phán chủ nghĩa bành trướng và bá quyền nước lớn của giới cầm quyền phản động Bắc Kinh” (Nxb Khoa Học Xã Hội - Hà Nội, 30/08/1979), và cả bộ sách “Sự Thật Về Quan Hệ Việt Nam-Trung Quốc Trong 30 Năm Qua” (Nxb Sự Thật, Hà Nội 10/1979)… đều đã được thu hồi và tiêu hủy sạch.

Tất cả các bài ca biên giới hào hùng một thời, đã theo lệnh “trên”, cũng từ lâu tắt tịt (Ngày ra đi, hướng biên cương, gió bấc tràn về lòng anh lạnh buốt. Nòng súng đen dán câu thơ, Ý thơ thiệt hay là thơ Lý Thường Kiệt…/Và anh lại ra đi, vui như ngày hội, Mùa xuân biên giới, súng anh gác trời xa…). Ngay cả “Những đôi mắt mang hình viên đạn” cũng đã im lìm nhắm kín.

Đối với mối quan hệ “mênh mông tình hữu nghị” của đảng và nhà nước ta, sự hy sinh bảo vệ Tổ quốc của họ không chỉ đơn thuần là vô nghĩa, bởi chẳng từng có một lời tri ân nào được lãnh đạo ta nhắc tới vào dịp kỷ niệm 30 năm giỗ họ. Sự hy sinh đó còn biến thành lớp lá mục lót đường từ lâu để đón nhận 16 chữ vàng của thiên triều.

Năm nay, sự hy sinh đó đã bị phũ phàng xóa sạch bằng những bài báo ca tụng viên tướng tư lệnh quân khu Quảng Châu từng chỉ huy trận chiến bành trướng xâm lăng VN 1979 là Hứa Thế Hữu, ngay trên cơ quan ngôn luận/tuyên truyền của thành ủy thủ đô là tờ Hà Nội Mới.

Sự hy sinh đó cũng đã ngậm ngùi chìm mất tăm bên dưới những vòng hoa tưởng niệm “Ðời đời nhớ ơn các liệt sĩ TQ” ở nghĩa trang biên giới Long Châu thuộc tỉnh Quảng Tây…

Rứa không là cái cốt tay sai rất đáng cho quan thầy hài lòng hả dạ đó sao?

3. Ngoại Xâm Đích Thực Anh Hùng?

Nguyên tác là quyển Chiến hữu trùng phùng, của tác giả Mạc Ngôn. Nội dung là nhằm xiển dương chủ trương “phá sạch-giết sạch” của quân đội nhân dân TQ trong cuộc chiến xâm lược VN năm 1979, dưới tên gọi là cuộc chiến “giáo trừng bọn man di” ở phương Nam (Chính Đặng Tiểu Bình, trên truyền hình trực tiếp, đã công khai gọi “VN là bọn côn đồ. Phải dạy cho chúng một bài học”. Rồi tới lúc nối lại bang giao 1991, Giang Trạch Dân đã mắng xéo Nguyễn Văn Linh là “quân vô ơn”, bằng cách xén tặng một câu trong bài thơ đểu của Giang Vĩnh đời Thanh).

Quyển sách kể lại diễn tiến cuộc xung đột vũ trang khốc liệt giữa 2 nước từng là “bầu bạn anh em” và từng sát vai tiến tới một thế giới đại đồng: Chỉ trong vòng một tháng, quân đội TQ đã san bằng 6 tỉnh biên giới của VN; đã chặt đầu, mổ bụng, cưỡng hiếp và chôn sống vô số thường dân VN ở dọc biên giới…

Quyển sách đã được các dịch giả Trần Trung Hỷ, biên tập Triệu Xuân, và Cty Văn hóa Phương Nam tổ chức chuyển ngữ, đặt lại tựa đề là Ma chiến hữu, rồi liên kết với Nxb Văn Học để ấn hành rộng rãi, nhằm mục đích phổ biến “một cách ca tụng riêng về chủ nghĩa anh hùng” phá sạch/giết sạch của TQ. Trong lúc có khá nhiều quyển khác, cho dù được độc giả bình chọn hay hơn, nhưng đều bị ngăn chận/trù dập/thu hồi, như: Thời của thánh thần, Dưới chín tầng trời, Rồng đá…

Rứa không là cái cốt tay sai rất đáng cho quan thầy hài lòng hả dạ đó sao?

4. Không Có Gì Ghê Gớm Hơn…

Trang mạng vietnamchina.gov.vn, thuộc hệ thống Cổng thông tin Điện tử Chính phủ, cụ thể là của Bộ Công Thương VN, từng đăng nhiều tin/bài sử dụng các địa danh lãnh thổ của ta bằng tên gọi của TQ, lại còn khẳng định đoàn tàu Ngư Chính đến biển Ðông là để bảo vệ lãnh hải nước Tàu! Rứa mà, Nguyễn Thanh Hưng, Cục trưởng cục Thương mại Điện tử và Công nghệ Thông tin, bộ Công Thương, cơ quan chịu trách nhiệm về trang web này, đã thản nhiên nhận định rằng “Không có gì quá ghê gớm cả… (bởi nó là) của mình nhưng mà là phía TQ phụ trách”!

Ngư dân VN, sau khi bị hải quân TQ bắt giam/đánh đập/cướp bóc trên đường tránh bão tại vùng biển Hoàng Sa, đến hàng tháng sau mới được thả về. Thông Tấn Xã Việt Nam lập tức đưa tin “Ngư dân về từ Trung Quốc”. Bài báo được gần 700 cơ quan ngôn luận các thứ ở đây đăng/đọc lại. Không một tổng biên tập nào dám lên tiếng rằng chính TTXVN đã mặc nhiên xác nhận đảo Phú Lâm, thuộc quần đảo Hoàng Sa, nơi TQ chiếm đóng và giam giữ những ngư dân này là lãnh thổ Trung Quốc!

Tổng Cty Than Khoáng Sản VN (TKV) đã dành mọi ưu đãi để các nhà thầu TQ tự quyết đưa hàng ngàn lao động phổ thông TQ vào làm việc tại Tây Nguyên và nhiều nơi khác. Đến mức TS Phạm Chi Lan đã phải lên tiếng báo động về tình trạng sinh hoạt “tự trị” gây xung đột áp đảo đối với người Việt sở tại. Bất kể những bản tin nóng dồn dập trên báo, PTT thường trực Nguyễn Sinh Hùng đã tự nguyện bênh vực là lao động phổ thông TQ các nơi được quản lý đúng “theo pháp luật Việt Nam”.

Rứa không là cái cốt tay sai rất đáng cho quan thầy hài lòng hả dạ đó sao?

5. Vang Rè Một Điệp Khúc

Vào dịp kỷ niệm 55 năm chiến thắng Điện Biên, Bắc Kinh đã tự ý tổ chức họp báo kể công của TQ là chính yếu. Đại sứ quán và các Tổng lãnh sự quán của ta tại TQ đều im ắng y hệt Bộ Ngoại giao của ta ở Hà Nội, dù không ai thấy trong 16 chữ vàng có từ im lặng.

Trong suốt cả năm, qua nhiều lần tàu cá VN bị tàu chiến cải trang của TQ đâm chìm, toàn bộ dàn báo đài chính quy của ta chỉ được phép đưa tin về “tàu lạ”. Ngay cả khi TQ ra lệnh cấm ngư dân VN đánh cá trên ngư trường quen thuộc của họ thuộc lãnh hải VN, người phát ngôn Lê Dũng của ta vẫn chỉ nhiều lần lặp lại một điệp khúc (cũng quen thuộc không kém) rằng VN: “có đầy đủ bằng chứng lịch sử và cơ sở pháp lý…”. Trong lúc tuyệt đối chấp hành mệnh lệnh từ đường dây nóng: “không làm phức tạp thêm tình hình!”.

Vào cuối tháng 11/2009, Học viện Ngoại giao và Đoàn luật sư VN đã long trọng tổ chức một hội nghị theo kiểu workshop hoành tráng và tầm cỡ quốc tế mệnh danh là “Biển Nam Trung Hoa: Hợp Tác Vì Sự Ổn Định Và Phát Triển Khu Vực”. Cụm từ “Biển Nam Trung Hoa” không chỉ chễm chệ trên chủ đề hội nghị, mà còn được lặp lại thêm 22 lần nữa trong toàn bộ 3 tệp hồ sơ “Ý Niệm”, “Chương Trình”, và “Danh Sách Khách Mời”. Có phải đây là 1 tấu sớ kín đáo của nhà nước ta dâng trình thiên triều, thông qua ban tổ chức hội nghị, là: Chính thức nhìn nhận danh xưng và chủ quyền “Biển Nam Trung Hoa” này trên vùng biển mà TQ từng vẽ 9 gạch hình lưỡi bò?

Rứa không là cái cốt tay sai rất đáng cho quan thầy hài lòng hả dạ đó sao?

6. Lưng Cong Như Lưỡi Uốn…

GS Brantly Womack, trong tác phẩm China and Vietnam: The Politics of Asymmetry, đã nhận định quan hệ Việt–Trung “là một ca thú vị của mối quan hệ bất tương xứng lâu dài”:

Ở trong nước, đại lễ 1000 năm Thăng Long đã được Bộ chính trị định hướng sao cho hoành tráng xứng tầm với dịp kỷ niệm 60 năm quan hệ Việt-Trung. Hà Nội rốt ráo lo cải tạo các dòng sông bẩn; xây dựng các tượng đài, công viên, bảo tàng, thư viện; tổ chức nhiều buổi hội thảo “Tăng cường niềm tin trong quan hệ Việt-Trung”…

Riêng TT Nguyễn Tấn Dũng đã chỉ thị cho PTT Nguyễn Thiện Nhân chỉ đạo việc thí điểm xây dựng Học viện Khổng Tử, vốn là “cơ quan truyền bá văn hóa Trung Quốc ở nước ngoài”, song song với một Cung Hữu nghị Việt-Trung, cũng do Bắc Kinh tài trợ, một công trình mà Lỗ Kiến Hoa, trợ lý Bộ trưởng bộ Thương mại TQ, trang trọng gọi là “điểm sáng” của “Năm Hữu nghị Việt – Trung 2010”.

Ở ngoài nước, Đại sứ đặc mệnh toàn quyền của VN tại Bắc Kinh là Nguyễn Văn Thơ (từng đoạt cờ thi đua của TT Nguyễn Tấn Dũng ngày 30/8/2009), đã cật lực ngợi ca mối tương quan vương-hầu/chủ-tớ đó, bằng cách:

- Mô tả mức độ hoàng tráng của đại lễ quốc khánh TQ ngày 1/10/2009 là: “Hết sức huy hoàng… Đây là niềm tự hào của nhân dân Trung Hoa, cũng là niềm tự hào của các nước châu Á trong đó có Việt Nam”.

- Chúc tụng đài phát thanh Tiếng Nói Vịnh Bắc Bộ của TQ trong ngày đầu khai mở chương trình tuyên truyền bằng Việt ngữ: “Chúc đài thành công trong sự nghiệp của mình”.

Còn Tổng lãnh sự Nguyễn Anh Dũng ở Nam Ninh thì “Chân thành mong ‘Tiếng nói Vịnh Bắc Bộ’ sẽ truyền đi những thông tin góp phần tăng cường quan hệ cùng có lợi giữa nhân dân hai nước, góp phần tăng cường quan hệ hữu nghị đời đời xanh tươi giữa nhân dân hai nước chúng ta”.

Rứa không là cái cốt tay sai rất đáng cho quan thầy hài lòng hả dạ đó sao?

7. Biểu Tình Lợi Hay Hại???

Hệ thống mạng của ta quả cực an toàn, cả ba mặt:

Một là, nhà nước ta đã ban hành biện pháp tường lửa ngăn chận các thao tác truy nhập vào các trang mạng “phản động”, hay, đột nhập bằng kỹ thuật số vào các trang webs/blogs thiếu thiện chí và kém thiện ý với xã hội chủ nghĩa, quan trọng nhất là triệt để ngăn chận các trang mạng Cửu Bình và Pháp Luân Công tiếng Việt.

Hai là, các trang mạng có tính phản biện chắc cú và đại trà mà chính phủ ta không trả lời nổi thì đều có nhiều cơ hội ngang nhau để xảy ra các sự cố “bất thường”. BauxiteVietNam hay Talawas chỉ là những tiêu biểu làm nền.

Ba là, chính lãnh đạo ở cấp thượng tầng đảng ta đã cho duyệt đăng ngay trên cpv.org.vn (trang mạng chính thức của toàn đảng và là cơ quan ngôn luận của trung ương đảng) những bài viết ca tụng thiên triều, nhằm bình thường hóa những địa danh đất nước ta theo tên gọi của Tàu, và bình thường hóa cả những động thái/đối sách “mềm mỏng” của lãnh đạo ta.

Thêm vào đó, chính đích thân một trong những lãnh đạo tư tưởng/lý luận ở cấp cao nhất của ta cũng đã quát tháo những câu hỏi chất vấn thanh niên rường cột nước nhà: “Làm cái gì? Để làm cái gì? Tôi hỏi các anh các chị: Các anh các chị làm như thế, biểu tình Trường Sa Hoàng Sa là của Việt Nam như thế là lợi hay là hại? Lợi hay hại???”.

Rứa không là cái cốt tay sai rất đáng cho quan thầy hài lòng hả dạ đó sao?

8. Biển Đông Là Của Nước Nào?

Ấn phẩm Chào mừng ngày Báo chí Cách mạng Việt Nam của báo Phụ nữ Thành phố có đăng một bài viết về những chàng thủy thủ, kèm theo một bức ảnh độc đáo, đã khiến độc giả cực hoang mang, không rõ đối tượng ca ngợi Hải Quân là Hải Quân nào? Hoá ra, đó là bức ảnh lính thủy của TQ, với một dòng chú thích bồi hồi cực tả bên dưới: “Lâu lắm rồi mới thấy lại những hình ảnh này. Rất đông những chàng trai. Họ đi theo hàng theo khối, từ từ tiến vào sân ga”…

Họ không chỉ quanh quẩn ở sân ga của ta, theo bài báo Phụ Nữ. Họ đâm chìm tàu cá của ngư dân ta và ít lâu sau mới được báo đài ta loan tin mơ hồ về những con “tàu lạ”. Họ ra lệnh cấm đánh cá trên một diện tích 130 ngàn cây số vuông Biển Đông của ta. Họ bắt giam/đánh đập/cướp bóc/giữ tàu/thu lưới của ngư dân ta và công khai đòi tiền chuộc…

Họ đã khiến cho Bộ Ngoại Giao của ta có thêm tên mới là Bộ Giao Thiệp. Họ đã hạ tầng các công hàm ngoại giao của ta thành những bản kiến nghị. Họ đã khiến cho lãnh đạo sở tại của ta nhận định rõ ràng chắc cú về biển đảo của đất nước chỉ là những “bãi hoang chim ỉa!”. Và khiến cho QH ta nhanh chóng/hồn nhiên kết án tử hình tập thể ngư dân ta bằng cách thông qua dự luật dân quân tự vệ biển.

Họ đã giúp cho Bộ Công an của ta sớm ban hành/áp dụng luật mới: Thanh niên VN không được mặc áo có in dòng chữ “Hoàng Sa và Trường Sa là của Việt Nam”! Đã có những bloggers bị bắt giam về tội này, và cũng đã có những thanh niên bị công an lột áo ngay giữa những buổi tọa đàm. Trong ngành giáo dục, thậm chí, đã có lệnh Học sinh không được phép phản đối lính Trung Quốc cướp bóc/đánh đập ngư dân Việt Nam!..

Ở cấp vĩ mộ, đã có QĐ 97 cấm trí thức VN công khai phản biện các chính sách của đảng và nhà nước ta. Gọi là để phòng chống mọi khả năng/xác suất làm mích lòng/phật ý Bắc Kinh.

Rứa không là cái cốt tay sai rất đáng cho quan thầy hài lòng hả dạ đó sao?

9. Bùn Đỏ Là Chủ Trương Lớn!

Có 3 câu nói được nhiều giới quan sát ghi nhận là “phát ngôn ấn tượng” vào bậc “top 10” của VN trong năm 2009:

1> TT Nguyễn Tấn Dũng trả lời phỏng vấn báo Tuổi Trẻ ngày 4/2/2009: “Khai thác bô-xit Tây nguyên là một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước”. Lời phát ngôn này không chỉ “ấn tượng” suông. Nó đáng giá 150 triệu USD.

2> Bên lề Diễn đàn xúc tiến đầu tư Tây Nguyên ngày 5/9/2009, tại Buôn Ma Thuột, PTT Trương Vĩnh Trọng đã trịnh trọng phát biểu một quan điểm áp đảo: “Khai thác bô-xít ở Tây Nguyên là đúng đắn và đang gặp thuận lợi”, bất kể những đợt triều cường phản biện của trí thức/thanh niên/bloggers cả nước.

3> Chủ nhiệm VPQH Trần Đình Đàn cho tổ chức họp báo để gióng tiếng tuyên bố: “Quốc hội hoàn toàn ủng hộ chủ trương lớn này… Chắc chắn Quốc hội sẽ hoàn toàn ủng hộ”! Những hai ngày trước khi chính thức khai mạc kỳ họp thứ 5 khóa XII nhằm phê chuẩn dự án bauxite Tây Nguyên!

Rứa không là cái cốt tay sai rất đáng cho quan thầy hài lòng hả dạ đó sao?

10. Ảnh Vi Phạm Tác Quyền

Không hề vi phạm tác quyền, ngay trên trang mạng Chính phủ, là tấm hình PTT Hoàng Trung Hải cầu lộc cầu tài khúm na khúm núm bắt tay Ôn Gia Bảo, thể hiện toàn cảnh một nền văn hóa đối ngoại nô dịch dễ bảo/sẵn sàng lệ thuộc/chầu chực liếm giày. Nói theo kiểu ẩn dụ của nguyên Trưởng ban biên giới Lê Công Phụng trả lời phỏng vấn báo Văn Hóa (California) thì là “Phải biết sống với họ!” (vừa là đồng chí-vừa là con em?).

Còn chính thức “vi phạm tác quyền”, và chỉ mắc mỗi lỗi công khai “vi phạm tác quyền”, theo lời khẳng định của nhà chức trách TS Nguyễn Thành Rum, chính là bức ảnh quân đội nhân dân TQ được dùng làm tiền cảnh cực hoành tráng cho loạt panô đại trà kỷ niệm 65 năm quân đội nhân dân và 20 năm ngày quốc phòng toàn dân VN.

Vào ngày kỷ niệm lẽ ra không thể kém tính hào hùng này, không ai thấy người anh cả 5 sao của quân đội nhân dân xuất hiện/phát biểu trên bất kỳ một trang báo nào. Cũng không thấy một bài viết nào phản bác luận điệu cướp công chiến thắng Điện Biên về tay các tướng Tàu (Trần Canh, Vi Quốc Thanh, Lã Quý Ba…).

Ngược lại, Đại sứ đặc mệnh toàn quyền của VN tại Bắc Kinh là Nguyễn Văn Thơ, nhân dịp này đã long trọng tuyên bố: “Đảng, Chính phủ và nhân dân Việt Nam không bao giờ quên sự giúp đỡ to lớn và quý báu của Đảng, Chính phủ và nhân dân Trung Quốc anh em” (trong mấy mươi năm cương quyết hy sinh đến người VN cuối cùng để đánh Mỹ!).

Cứ ngỡ như xưa nay cái hình ảnh quân đội ta là một biểu trưng Hồn Trương Ba-Da Hàng Thịt đối với quân đội nhân dân TQ. Nay, với những chuyến “giao lưu sĩ quan trẻ” cộng thêm đợt cải tiến quân trang/quân phục mới, cả hai đã thực sự đã “sắt cầm hảo hợp”…

Còn Đại tá Tiến sĩ Dương Văn Lượng, trong bài phân tích “Âm Mưu, Thủ Đoạn Diễn Biến Hoà Bình Trong Lĩnh Vực Đối Ngoại”, đã cực lực khẳng quyết tâm ý bảo vệ thiên triều: “Các thế lực thù địch chống phá nhà nước CHXHCN Việt Nam đã lợi dụng những vấn đề do lịch sử để lại về chủ quyền biên giới, hải đảo nhằm chia rẽ quan hệ khăng khít giữa Việt Nam và Trung Quốc, nhằm biến Việt Nam thành con đê ngăn chặn ảnh hưởng của Trung Quốc tràn xuống các nước phía dưới vùng Đông Nam Á, nơi ảnh hưởng của thế lực tư bản đang ngự trị…”.

Rứa không là cái cốt tay sai rất đáng cho quan thầy hài lòng hả dạ đó sao?

*

- Chung Ý, Chung Lòng, Chung Một Biển Đông? -

Trong cả kho tàng âm nhạc Việt, ngay từ giữa thế kỷ trước và trong đầu thế kỷ này, có lẽ không có bài hát nào có khả năng lột tả toàn bộ tính chất phấn khích môi răng của mối quan hệ Lãnh Đạo Việt-Trung như bài “Việt Nam–Trung Hoa, núi liền núi, sông liền sông” của nhạc sĩ Đỗ Nhuận: “Việt Nam-Trung Hoa, núi liền núi, sông liền sông, chung một biển Đông, mối tình hữu nghị sáng như rạng đông. Bên sông, tắm cùng một dòng, tôi nhìn sang đấy, anh nhìn sang đây, sớm sớm, chung nghe tiếng gà gáy cùng. A…a… a… nhân dân ta, chung một ý, chung một lòng, đường ta đi hồng màu cờ thắng lợi. A…a… a… nhân dân ta ca muôn năm: Hồ Chí Minh – Mao Trạch Đông…”.

Không chỉ vậy, bài hát còn tiên tri/phóng họa ra cả toàn cảnh một mối tương quan chính trị trùm lấp mà lắm tay phân tích (thiếu thiện chí và kém thiện ý) người nước ngoài đã xách mé gọi cái chủ nghĩa bành trướng/đại hán/bá quyền/nước lớn đó là “cái bóng của Trung Quốc”!

Cái bóng râm bá quyền đó không tự nó trên trời rơi xuống. Lãnh đạo TQ chỉ giản đơn búng tay gieo hạt. Chính dàn lãnh đạo Ba Đình của ta, dù được hay không được nêu tên trong bài hát nói trên, đã tự nguyện phấn đấu cắm cúi cặm cụi bón phân tưới nước cho nó rộng tàn vững gốc như ngày nay.

- Không Sẵn Tay Sai, Há Dễ Có Quan Thầy? -

Hiện tượng “bóng đè” đó chính là nguồn cội của bức công hàm 1958. Nó chính là cơ sở của động thái bàng quan tọa thị trước sự kiện biển Đông dậy sóng năm 1974. Nó chính là nguyên ủy thấy trước của các trận địa chiến 1979 và hải chiến 1988 khốc liệt kinh hoàng. Và nó cũng chính là điều cắt nghĩa trọn vẹn/sâu sắc nhất về tất cả những quyết định/chính sách/chỉ thị áp đảo/giải tán/bịt miệng/dập tắt/(và thậm chí cả) khép án… lòng yêu nước cùng sự thể hiện niềm tự trọng dân tộc của trí thức/thanh niên/bloggers Việt Nam trong suốt mấy năm qua.

Nhìn về tương lai, nếu cả thế giới nói chung và TQ nói riêng có thể tiến tới những mục tiêu phát triển của họ, thì chính căn bệnh “bóng đè tự nguyện” của lãnh đạo ta sẽ không chỉ che mắt chính họ đến chẳng thể có được một viễn kiến nào, mà còn ngáng chân cột cẳng cả dân tộc ta đến không còn một ai được phát huy cá nhân để thăng hoa xã hội.

Đảng và nhà nước có bắt giam/áp án hết cả những trái tim khẳng định “Hoàng-Trường Sa là của Việt Nam” thì cũng chẳng khiến nổi Bắc Kinh từ bỏ/ngừng nghỉ cái tham vọng độc bá của nó hoặc là sẽ bớt coi thường giới lãnh đạo CSVN. Bởi, không có một ai coi trọng tính hèn và lời van, ngay cả kẻ thù cũng Rứa. Huống gì ở đây lãnh đạo ta đã hình thành trong tàng thức của họ một tính khí đê hèn có hệ thống và thành truyền thống!

Ngày nào căn bệnh “bóng đè tự nguyện” của lãnh đạo ta còn đó thì sẽ vẫn còn đó nguyên xi một guồng máy thiển cận/tham ô/nô dịch chuyên chú phục vụ cho quyền lợi của ngoại bang để xây riêng nhà thờ tổ. Hà Nội sẽ trở thành phủ lỵ một châu huyện của Tàu. 46 Hoàng Diệu sẽ là dinh Thái Thú. Hệ quả của nó, do đó, chỉ có thể là một cấp số nhân mới cáu của các chỉ số tụt hậu/đội sổ của một xứ sở từng có tên gọi là Việt Nam. Đất nước sẽ khó vượt thoát ra khỏi các lũy tre gia công. Con người sẽ không dứt nỗi kỳ vọng vào những tờ vé số.

Hãy tận lực giúp nhau để giúp cho đất nước có được một chính quyền nhân dân đích thực: Giàu lòng tự trọng – Vững chí tự quyết – Bền gan tự lập – Chính tâm tự hào.

30/12/2009 – đôi điều lược toán cuối năm.

Blogger Đinh Tấn Lực



Triet is a joke

Triet is a joke
but banning facebook in VN is no joke at all


...

Ngòi Dẫn Của Xã Hội Bất Tuân Phục


Ngòi Dẫn Của Xã Hội Bất Tuân Phục
. Đinh Tấn Lực
  • “Những ai tự khẳng định lòng ưu ái tự do, và chưa hề phản đối các thứ độc tài áp đặt, đều đích thị là những kẻ mong gặt hái hoa màu mà không muốn bỏ công cày đất”. – Frederick Douglas

Cách đây 3 năm, vào giữa tháng 11-2006, lãnh đạo ta đã không dấu niềm cực hãnh được Chủ tịch Hồ Cẩm Đào ghé thăm và ban cho câu trướng xiển dương 4 điểm chung giữa 2 đảng cầm quyền 2 nước, gọi tắt là “4 tương”: Sơn thủy tương liên – Văn hóa tương thông – Lý tưởng tương đồng – Vận mệnh tương quan.
Lẽ ra, niềm hãnh diện đó còn có khả năng vượt qua cực điểm kích ngất nói trên, bởi chí ít, Hồ chủ tịch lẽ ra phải đủ thông minh và tế nhị để tương thêm những “8 tương” cơ bản khác nữa, gọi là để tăng thêm phần long trọng: Quan trí tương đương – Tham nhũng tương thích – Thông tin tương đắc – Chủ nghĩa tương lân – Chính sách tương hỗ – Hành xử tương xứng – Lợi quyền tương ngộ – Bạo lực tương tác.
Bạo lực chuyên chính ở VN hiển hiện suốt chiều dài lịch sử đảng CSVN, suốt chiều rộng tiếp thu các chiêu thức của TQ, và suốt chiều sâu oán hận của nhân dân, thông qua các chiến dịch đấu tố Cải cách ruộng đất, Xét lại, Nhân văn-Giai phẩm, chôn sống tập thể đồng bào vào dịp Tết Mậu Thân, tù cải tạo sau ngày Thống nhất… Cho tới gần đây là hàng loạt những vụ hạch sách/bắt bớ/giam cầm/áp án các vị chân tu Thích Quảng Độ, Nguyễn Văn Lý, Ngô Quang Kiệt, Nguyễn Công Chính… các Luật sư Lê Thị Công Nhân, Nguyễn Văn Đài, Lê Chí Quang, Lê Công Định, Lê Trần Luật… các nhà hoạt động dân chủ/nhân quyền Phạm Thanh Nghiên, Nguyễn Văn Trội, Vũ Hùng, Nguyễn Tiến Trung… các nhà văn Nguyễn Xuân Nghĩa, Trần Khải Thanh Thủy… các nhà báo Nguyễn Việt Chiến, Nguyễn Văn Hải… các bloggers Điếu Cày, ChangeWeNeed, Mẹ Nấm, TrangRidisculous, Người Buôn Gió…
Căng hơn VN một tầng nấc, bạo lực chuyên chính ở TQ không chỉ diễn ra ở quảng trường Thiên An Môn cho cả thế giới chú mục hồi tháng 6-1989. Nó từng được ghi nhận qua từng thời kỳ/triều đại tổng bí thư… tính từ cuộc vạn lý trường chinh và cuộc cách mạng đại nhảy vọt trước đây, cho tới gần đây là các vụ đàn áp người Tây Tạng vào dịp Thế vận hội 2008. Gần hơn nữa là các vụ đàn áp sắc dân Duy Ngô Nhĩ ở vùng Tân Cương…
Hầu hết các tờ báo quốc doanh của Hoa Lục đều im thin thít về những động thái đàn áp đẫm máu dã man và phi nhân tính đó. Ngoại trừ tờ Tài Kinh.
Tài Kinh, ra đời từ năm 1998, chuyên ngành tài chính-kinh tế với chủ trương canh tân/cải cách từ thương mại tới xã hội (và cả lề lối thông tin), là tờ báo uy tín/ảnh hưởng đứng vào hàng nhất nhì Hoa Lục, nổi tiếng về các bài viết “nêu quan điểm độc lập”, có lượng phát hành 250.000 ấn bản mỗi số, có mạng phóng viên cơ hữu ở nước ngoài, với cơ quan chủ quản là Hội đồng Quản trị Thị trường Chứng khoán (một tổ hợp các tổ chức tài chính của TQ được nhà nước bảo trợ, đứng đầu là Vương Bá Minh, con trai của một cựu Thứ trưởng bộ Ngoại giao TQ).
Sáng lập viên kiêm Tổng biên tập báo Tài Kinh là bà Hồ Thư Lập, từng tham dự cuộc biểu tình của sinh viên Bắc Kinh ở Thiên An Môn, sau đó, tốt nghiệp trường đại học danh giá của Mỹ là Stanford University ở bang California. Bà đã nổi tiếng trong làng báo TQ qua nhiều loạt bài điều tra không khoan nhượng về nạn tham nhũng trong giới đảng viên các cấp của TQ; về các vụ lừa đảo lớn của các tập đoàn kinh tế TQ; về một nền công nghiệp hồn nhiên gây nguy hại ô nhiễm môi trường cực độ; về nạn cường hào ác bá khai thác/chiếm đoạt đất đai khắp các địa phương; hoặc về khả năng cứu hộ thiên tai quá kém của nhà nước, đặc biệt là trong vụ động đất vừa qua tại Tứ Xuyên…
Riêng trong thiên phóng sự về nạn ô nhiễm trên sông Tùng Hoa vào năm 2005, tác giả Hồ Thư Lập đã liệt kê ra 4 “bài học” cho đảng và nhà nước CSTQ: 1) sự cố nguy hại ở cấp quốc tế chứ không chỉ tỉnh hạt Cát Lâm và Hắc Long Giang; 2) chính phủ lẽ ra đã phải minh bạch tin tức để bảo vệ nhân dân Cáp Nhĩ Tân; 3) phải chấn chỉnh cách điều hành guồng máy nhà nước; 4) quy hoạch phát triển đô thị phải dự kiến nhiều nguồn nước sạch khác nhau cho dân. Bài báo đã khiến cho Phó thị trưởng Cát Lâm là Vương Vĩ tự sát; Cục trưởng Cục Bảo vệ môi trường nhà nước là Giải Chấn Hoa từ nhiệm; và ba quan chức lãnh đạo cao cấp của Cty Dầu khí nhà nước bị kỷ luật.
Bà Hồ Thư Lập được tạp chí Foreign Policy của Mỹ tuyên dương là “một trong số 100 trí thức có ảnh hưởng lớn nhất thế giới”. Tạp chí The New Yorker đã từng có bài viết riêng về sự nghiệp/thành tựu của bà. Đài RFI của Pháp mô tả bà là “một nhà báo đam mê với nghiệp vụ hơn là một người có óc nổi loạn chống chế độ”. Còn theo hãng thông tấn Bloomberg và báo Time-CNN thì giới truyền thông Hoa Lục đã mệnh danh bà là “người phụ nữ nguy hiểm nhất TQ”, dựa trên căn bản đánh giá (vẫn do đài RFI ghi nhận): “Nỗi ám ảnh lớn của bà là một nền báo chí Trung Quốc có chất lượng”.
Hồi đầu năm nay, báo Tài Kinh đã được chính phủ chỉ thị cho thu hồi số báo đăng bài phóng sự điều tra tham nhũng của đài Truyền hình Trung ương CCTV. Tòa soạn Tài Kinh chấp hành lệnh này, nhưng mấy ngày sau lại cho đăng tải bài phóng sự đó trên trang báo trực tuyến, đồng thời, tán phát số báo đã thu hồi cho các đại biểu quốc hội TQ.
Đến giữa tháng 7-2009, đảng CSTQ ra chỉ thị “chỉnh đốn” tờ Tài Kinh: a) Phải giảm thiểu/thay đổi phong cách viết/đăng các phóng sự “nóng/tế nhị/vượt ngưỡng”! b) Chỉ được viết/đăng tin/bài trong lĩnh vực kinh tế/tài chính và chỉ được đăng các “nhận định tích cực”.
Cơ quan chủ quản của Tài Kinh hạ lệnh kiểm duyệt mọi bài báo trước khi lên khuôn. Bà Hồ Thư Lập đã phản kháng lệnh đó, nhưng tờ báo vẫn phải cắt bỏ ít nhất 3 bài phóng sự điều tra, bao gồm cả thiên phóng sự về cuộc đàn áp sắc dân Duy Ngô Nhĩ ở Tân Cương (hệ quả là một đặc phái viên của Tài Kinh đã bị trục xuất khỏi thủ phủ Urumqi).
Nhận định về chính sách quản lý Internet của chính phủ Trung Quốc, và cũng để trả lời ngay khi chính quyền TQ khởi dụng phần mềm Green Dam để kiểm soát/ngăn chận việc lướt mạng trên toàn cõi Hoa Lục, bài báo của bà Tổng biên tập Hồ Thư Lập trên tờ Tài Kinh viết rằng nó “thiếu tính chính danh vì không cân bằng được các quyền lợi của nhà nước với quyền lợi công chúng”.
Gần giữa tháng 10-2009, Chủ nhiệm Ngô Truyền Huy, Tổng biên tập Hồ Thư Lập, gần 70 nhân viên tòa soạn, cùng với 147 trên tổng số 174 phóng viên của tờ Tài Kinh, đã ký tên đồng loạt từ chức để phản đối chính sách bưng bít/tô hồng thông tin của nhà nước.
Sự kiện này gây chấn động không chỉ trong nội địa TQ, hay chỉ trong làng báo TQ, bởi đây là lần đầu tiên, đảng và nhà nước CSTQ phải đối diện với một phản kháng tập thể, một hình thái đấu tranh bất bạo động ở tầm vóc đó.
Những thông điệp của thái độ dứt khoát tập thể này là gì?
Một là, không chấp nhận nô lệ cho cường quyền để viết tin/bài biện giải hay tô hồng chuốc lục cho các luận điệu gian trá.
Hai là, không chấp nhận đánh mất danh dự/nhân phẩm/lương tri để viết sai sự thật hoặc theo lệnh đặt hàng của đảng và nhà nước.
Ba là, chứng tỏ không phải chỉ có lề phải mới là con đường duy nhất để tiến thân hay bảo vệ được miếng ăn.
Bốn là, chứng nghiệm sự thanh thản tâm hồn một khi góp được tiếng nói vào việc ngăn chận tội ác có tổ chức.
Năm là, hướng dẫn quần chúng nhân dân mục tiêu và cách thức phản đối sự độc tài và độc ác chứ không chỉ ưu ái/chờ đợi tự do suông.
Các phóng viên từ chức của báo Tài Kinh hy vọng rằng bà Hồ Thư Lập sẽ khởi lập một tạp chí khác. Họ bảo: “Bất luận là tạp chí gì, bởi chúng tôi chỉ muốn theo gót bà ta. Chỉ vậy thôi!”.
Không chỉ các phóng viên Tài Kinh. Báo Le Monde ở Pháp viết về bà Hồ Thư Lập như “biểu tượng của một nền báo chí tự do tại TQ”. Trên thực tế, bà đã vượt qua cả ngưỡng biểu tượng để trở thành một gương sáng về đấu tranh, một đích nhắm về lý tưởng của nhiều ký giả/phóng viên khác, không thuộc tòa soạn Tài Kinh. Há chẳng phải chính bà là một ngòi dẫn đấu tranh bất bạo động đó sao?
Trong số 198 phương thức đấu tranh bất bạo động mà TS Gene Sharp cô đọng lại trong quyển cẩm nang Từ Độc Tài Tới Dân Chủ, động thái/tấm gương từ nhiệm tập thể của bà Hồ Thư Lập và các phóng viên báo Tài Kinh có thể được xếp vào nhiều hạng mục khác nhau, nhưng gần gũi nhất vẫn là các phương thức: 113-Đình công tự ngưng việc; 120-Rút lại lòng trung thành đối với nhà nước; 197-Làm việc nhưng không cộng tác; và trên tất cả là động thái biểu tỏ dẫn đường tới số 63-Xã hội bất phục tùng.
Trước đó và tương tự, Hội đồngViện Nghiên cứu Chiến lược IDS ở VN đã bày tỏ thái độ dứt khoát bằng tuyên bố tự giải thể ngày 14-9-2009 vừa qua. Lý do chính là nhằm phản đối quyết định 97. Mục tiêu gần là thể hiện hình thái đấu tranh phản đối tập thể. Mục tiêu xa là quảng bá, vận động cho các nơi khác cùng thực hiện các phương cách đấu tranh bất bạo động.
Vào buổi hoàng hôn của những chế độ cường quyền, bạo lực thường được sử dụng tối đa, cả dạng chìm lẫn nổi, gọi là để giữ “ổn định chính trị”. Trong bối cảnh khắc nghiệt đó, mọi biểu tỏ trí tuệ đều cần đi kèm với tinh thần đại dũng trước những cái giá phải trả sửa soạn theo sau.
Đã có ở TQ một Hồ Thư Lập và ban biên tập Tài Kinh đứng thẳng lưng/viết thẳng nét cho một nền báo chí trung thực và có chất lượng hơn.
Đã có ở VN một IDS quyết giữ phẩm giá người trí thức, nhất định không cúi đầu trước cường quyền vì lợi lộc riêng tư.
Cũng đã có ở VN một Nguyễn Hoàng Linh viết phóng sự điều tra về vụ nhà nước mua tàu phế thải của Ukraina; một Lan Anh trình làng vụ bảng giá y dược và Bộ y tế; một Trung Bảo và chủ nhiệm Nguyễn Trung Dân của báo Du Lịch về vụ Hoàng Trường Sa; một Osin Huy Đức, một TrangRidisculous, hay một Người Buôn Gió về nhiều lãnh vực… Và còn rất nhiều người khác nữa, cả bên trong lẫn bên ngoài luồng báo chí chính quy. Nếu nhại chữ dùng của báo Le Monde, thì đó là những con người vô úy tiên phong muốn “đẩy lùi lằn ranh của vùng cấm địa” đến khoảng trống minh bạch/trong sáng.
Xem ra, trí tuệ và ngòi bút đang liên kết nhịp nhàng các phương thức đấu tranh bất bạo động để làm riêng một ấn bản “Từ độc tài tới dân chủ, ở Việt Nam”.

08-12-2009 Đón mừng ngày Quốc Tế Nhân Quyền 2009.
Blogger Đinh Tấn Lực